Lịch sử Việt Nam hiện đại 1945- nay)
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hoàng tử bé

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Sôi
Ngày gửi: 13h:51' 16-01-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Sôi
Ngày gửi: 13h:51' 16-01-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HOÀNG TỬ BÉ
Antoine de Saint-Exupéry
(Bùi Giáng dịch)
Nguyên tác: Le Petit Prince (1943)
NXB An Tiêm tái bản lần thứ nhất năm 1973.
In 4050 cuốn trên toàn giấy bristol 120.
Xếp chữ tại nhà in Hồng Hà, 82 Trần Bình Trọng, Sài Gòn.
Chạy offset tại nhà in Võ Tánh, 29 Võ tánh, Sài Gòn.
Xếp máy vô bìa tại nhà in Thăng Long, 220 Trương Minh Giảng, Sài Gòn.
Hoàn thành sách ngày 9.11.1973.
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: https://sachmoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Mục Lục
Gửi Léon Werth..
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
PHỤ LỤC
Tiểu sử Antoine de Saint-Exupery
Thơ
Tiểu sử Bùi Giáng
Gửi Léon Werth..
Tôi xin lỗi các bé con, vì đã đề tặng cuốn sách này cho một người lớn. Tôi có một lẽ
chân xác để tự bào chữa, và xin được thứ lỗi: người lớn nọ là người bạn chí thiết
trong đời tôi. Tôi còn một lẽ nữa: người lớn nọ có thể hiểu hết mọi sự ngay cả
những cuốn sách viết cho bé con, người ấy cũng hiểu nốt. Tôi còn một lẽ thứ ba để
được tha thứ: người lớn nọ hiện sống ở nước Pháp, và đang chịu đói và rét. Y thật
cần được an ủi. Nếu tất cả những lẽ đó không đủ để bào chữa cho mình, thì tôi rất
muốn đề tặng cuốn sách này cho đứa con mà xưa kia người lớn nọ vốn đã từng là
(nó) vậy. Mọi người lớn, ban sơ, đều đã từng là những bé con. (Nhưng ít người trong
số đó ghi nhớ điều kia). Vậy tôi xin sửa chữa lời đề tặng:
Gửi Léon Werth
Thuở ông ta còn là bé con
I
Thuở lên sáu, một lần nọ tôi thấy một bức tranh lộng lẫy, trong một cuốn sách viết về
rừng thẳm nhan đề Sự tích đã sống. Bức tranh đó họa một con trăn đương nuốt con
mãnh thú. Trên đây là bản đồ mô phỏng bức họa kia.
Trong cuốn sách người ta nói: “Giống trăn nuốt toàn thể con mồi không nhai nghiền
gì cả. Rồi sau đó, giống trăn không còn có thể rục rịch nữa, nên nằm ngủ ròng rã suốt
sáu tháng trời là thời gian tiêu hóa”.
Từ đó, tôi đã suy ngẫm rất nhiều về những trận lưu ly mạo hiểm của rừng sâu và, tới
phen mình, tôi cũng đã dùng một cây bút chì màu mà vẽ nên bức họa đầu tiên. Bức
họa số 1. Nó như thế này:
Tôi có đưa cho những người lớn xem kiệt tác của mình, và hỏi họ có kinh khiếp trước
bức họa kia không.
Họ đáp: “Làm sao một cái mũ lại có thể xui người ta kinh khiếp?”
Bức họa của tôi không thể hiện một cái mũ. Nó vẽ một con trăn đương nằm tiêu hóa
một con voi. Tôi bèn vẽ phía trong của cái bụng con trăn, cốt là để cho người lớn dễ
lĩnh hội. Người lớn bao giờ cũng cần có những sự giảng giải thì họ mới hiểu. Bức họa
thứ hai của tôi nó như thế này:
Những người lớn đã khuyên tôi nên gác lại một bên những thứ họa trăn, trăn mở bụng
hoặc trăn khép bao tử, và hãy nên chuyên tâm vào bài học địa dư, sử ký, tính toán và
văn phạm. Thế là thuở lên sáu, tôi đã đành bỏ dở một tiền đồ sự nghiệp họa sĩ huy
hoàng. Tôi đã chán nản vì sự thất bại của bức họa số 1 và bức họa số 2. Những người
lớn chẳng bao giờ tự mình hiểu được cái gì cả, và trẻ bé nếu cứ phải giải thích đi giải
thích lại, mãi mãi, hoài hoài, cho họ hiểu, quả thật là điều mệt nhọc vô cùng.
Thế là tôi đành phải chọn một nghề khác, và tôi đã học lái máy bay. Tôi đã bay lăng
quăng khắp chốn trên địa cầu. Và quả thật, môn địa dư đã có giúp ích tôi nhiều. Tôi
chỉ cần thoáng nhìn qua một cái, là nhận ra được đất Trung Hoa từ quận Arizona. Sự
đó rất cần ích, nếu ta lạc nẻo giữa ban đêm.
Và như thế, trong đời tôi, tôi đã từng tiếp xúc hàng đống bự, với hàng khối bự những
nhân vật bảnh bao. Tôi đã từng sống nhiều ngày nơi nhà những người tai to mặt lớn.
Tôi nhìn họ ở sát nhãn quan mình. Và điều đó chả có canh cải ý kiến của tôi được chi
mấy chút.
Lúc nào tôi gặp một kẻ nào trong bọn họ, xem ra có vẻ sáng suốt một tí, thì tôi lại thử
làm cuộc thí nghiệm về họ với bức họa số 1 của mình mà tôi vẫn còn giữ luôn luôn.
Tôi muốn rõ xem họ có thật quả là sáng ý hay không. Hay vẫn tối dạ như lẽ hằng.
Nhưng luôn luôn họ bảo tôi: “Đấy là một cái mũ”. Vậy thì tôi chẳng nói gì nữa với họ,
chẳng nói gì về giống trăn, về rừng hoang, rú thẳm, chẳng nói gì về những ngôi sao
trên trời. Tôi hạ mình xuống cho ngang tầm khả năng của họ. Tôi nói về cách đánh
bài, đánh cầu, về chính trị và về ca vát, những lối thắt “nơ”. Và người lớn đã rất hài
lòng được quen biết một con người sao mà lịch thiệp thấu lẽ thị phi đến thế.
II
Thế là tôi đã sống cô đơn vậy đó, không ai để chuyện trò thật sự, cho tới ngày phi cơ
hỏng máy rơi tòm giữa sa mạc Sahara, cách đây sáu năm. Một cái trục, một cái chốt
nào đã gãy lìa trong máy. Và vì lúc lên phi cơ không có đem theo thợ máy, cũng
không chở hành khách, tôi phải một mình lo toan cuộc chữa chạy hì hục khó khăn.
Một vấn đề sống chết. Tôi chỉ còn đủ nước để dùng giỏi lắm là trong tám ngày thôi.
Đêm đầu, tôi đành phải nằm ngủ trên cát ở ngàn ngàn dặm để cách biệt với mọi miền
có người ta cư trú. Tôi đã chịu biệt lập còn hơn một kẻ đắm tàu, bó gối ngồi trên chiếc
bè giữa sóng gió đại dương. Thì hẳn bạn cũng hình dung ra cơn ngạc nhiên của tôi,
lúc bình mình đến, chợt một giọng nói nhỏ lớ ngớ kỳ lạ bỗng đánh thức tôi dậy:
“Nếu vui lòng… hãy vẽ cho tôi một con cừu!”
“Hả!”
“Vẽ cho tôi một con cừu…”
Tôi nhảy nhổm dậy một cái trên hai chân như bị sấm sét đập vào lưng. Tôi giụi tay lên
hai mắt. Tôi mở to mắt ra nhìn. Và tôi thấy một chú chàng tí hon rất mực kỳ lạ đương
chằm chặp trầm trọng nhìn tôi. Đây là bức chân dung khá nhất về chú bé mà sau này
tôi đã gắng thực hiện được. Nhưng cố nhiên, bức tranh của tôi, đẹp là thế đó, vẫn còn
thua xa dáng dấp tuyệt vời của chú bé. Đó chẳng phải lỗi tại tôi. Từ lâu, từ thuở mới
lên sáu, tôi đã quá nản lòng trong nghề nghiệp hội họa bởi tại những người lớn, và
nào tôi có học vẽ được cái gì đâu, ngoài những con trăn khép bụng và những con trăn
mở bao tử.
Thế là tôi chằm chặp nhìn sự đột hiện huyền ảo nọ, nhìn với hai con mắt tròn xoe
kinh ngạc. Đừng quên rằng lúc đó, tôi hiện đương ở cách xa những miền cư trú của
con người, xa đến ngàn ngàn dặm đất. Thế mà chú bé tí hon của tôi lại chẳng có vẻ gì
lạc lối, chẳng có vẻ gì là mỏi mệt, hoặc chết đói, hoặc chết khát, hoặc chết vì kinh
hoàng. Chú bé chẳng có vẻ gì một đứa trẻ lạc lỏng giữa sa mạc, ở cách cõi sống của
con người ngàn ngàn dặm đất. Cho tới lúc tôi gắng gỗ thốt được lời ra tiếng, thì tôi
bảo:
“Nhưng… nhưng mà chú bé làm cái gì tại đây vậy?”
Và chú bé dịu dàng lặp lại lời cũ, như dường coi đó là một sự vụ rất trang trọng:
“Nếu ông vui lòng… xin vẽ cho tôi một con cừu…”
Khi sự huyền bí nó quá mức kích động thì người ta không dám bất tuân. Dẫu sự vụ
kia xảy ra có vẻ phi lý bao nhiêu đi nữa ở cách xa ngàn dặm mọi chốn cư trú của con
người và đứng trước hiểm họa thập tử nhất sinh, tôi vẫn rút trong túi ra một tờ giấy và
một cây bút máy. Nhưng tôi chợt nhớ ra là mình vốn nghiên cứu nhiều nhất là môn
địa dư, sử ký toán tính, và văn phạm, và tôi bảo với chú bé (với một chút bực dọc)
rằng tôi đâu có biết vẽ. Chú đáp:
“Không hề gì. Vẽ cho tôi một con cừu đi”.
Vì tôi vốn từ xưa chẳng bao giờ có vẽ một con cừu, nên tôi đành vẽ lại cho chú một
trong hai cái loại tranh trong vòng khả năng của tôi. Đó là bức tranh con trăn khép
bụng. Và tôi đờ đẫn kinh ngạc khi nghe chú bé tí hon đáp:
“Không! Không! Tôi không muốn, tôi không thích cái con voi trong bụng cái con
trăn. Một con trăn, thật là nguy hiểm, và một con voi, thì thật là lịch kịch rầy rà. Quê
tôi thì bé tí. Tôi cần một con cừu. Hãy vẽ cho một con cừu đi.”
Và tôi đã vẽ.
Chú bé chăm chú nhìn, rồi nói:
“Không! Con này coi đã ốm yếu quá. Vẽ một con khác đi.”
Tôi vẽ.
Người bạn nhỏ mỉm cười một cách thật dễ thương, với giọng bao dung:
“Bác thấy đó… đó không phải là một con cừu, đó là một con dê đực, nó có hai cái
sừng…”
Vậy là tôi phải vẽ trở lại.
Nhưng bức này cũng bị từ khước, như mấy bức trước:
“Con này coi già nua cọm rọm quá. Tôi muốn một con cừu sống sao cho thật lâu.”
Vậy là tôi mất kiên nhẫn, vì bận lo khởi sự vội vã tháo máy ra xem, tôi nguệch ngoạc
vẽ bừa bức tranh sau đây.
Tôi văng ra một lời:
“Đó, đó là cái thùng. Con cừu chú muốn, nó nằm ở trong ấy.”
Nhưng tôi kinh ngạc xiết bao khi nhìn thấy gương mặt chú “quan tòa” nhỏ dại bỗng
rạng ngời ra:
“Thật đúng y như hệt! Đó là cái tôi muốn đó! Bác nghĩ có cần nhiều cỏ cho con cừu
nó ăn?”
“Vì sao hỏi vậy?”
“Vì quê tôi, thật bé tí…”
“Không hề gì. Vẫn đủ được lắm, chắc chắn vậy. Tôi cho chú một con cừu thật bé tí đó
mà.”
Chú nghiêng đầu lên bức tranh:
“Không thật bé tí lắm đâu… Coi kìa! Nó đã ngủ rồi.”
Và như vậy đó, tôi đã làm quen với hoàng tử bé.
III
Phải một thời gian lâu tôi mới rõ chú bé từ đâu lại. Hoàng tử tí hon, vốn chất vấn tôi
rất nhiều, lại chẳng bao giờ có vẻ nghe những câu tôi hỏi. Chỉ nhân những tiếng thốt
tình cờ, những lời nói ngẫu nhiên, mà dần dà tôi rõ được hết mọi sự. Chả hạn như khi
chú bé nhìn thấy phi cơ của tôi lần đầu tiên (tôi sẽ không vẽ phi cơ tôi, đó là bức tranh
quá phiền phức đối với tôi) chú hỏi:
“Cái đó là cái vật chi thế?”
“Đó không phải là cái vật. Đó biết bay. Đó là phi cơ. Đó là phi cơ của tôi đấy.”
Và tôi rất hãnh diện lúc cho chú bé biết rằng tôi là phi công bay. Chú thốt lớn:
“Sao! Bác từ trên trời rớt xuống!”
“Vâng”, tôi nhũn nhặn đáp.
“A! Đó là cái lạ…”
Và hoàng tử bé cười rộ một cái thật tươi xinh, làm tôi phát cáu. Tôi muốn rằng thiên
hạ phải coi trầm trọng những hoạn nạn của tôi. Rồi chú hoàng bé nói tiếp:
“Thế thì té ra bác cũng rớt từ trên trời xuống! Bác ở tinh cầu nào?”
Tôi chợt thoáng nhận thấy một tia mờ, lóe ra giữa huyền bí của sự hiện diện hoàng tử,
và tôi đột ngột hỏi:
“Chú bé cũng từ một tinh cầu khác mà tới đây?”
Nhưng chú bé không đáp. Chú ngẩng đầu dịu dàng một cái, vẫn nhìn phi cơ tôi:
“Thật thì nằm ở trong đó, bác chẳng có thể nào tới đây từ một cõi xa xôi gì cho
lắm…”
Và chú bé chìm vào trong một cơn mơ kéo dài dậm duộc. Rồi rút trong túi ra con cừu
của tôi, chú triền miên ngắm nghía kho tàng mình.
Bạn cũng hình dung được là tôi đã xiết bao khích động hiếu kỳ bởi chút thổ lộ nửa vời
về “những tinh cầu khác” nọ. Tôi gắng tìm cách hiểu thêm:
“Này chú bé ơi, chú từ đâu tới? Đâu là cái chốn “quê của chú”? Chú định mang con
cừu tôi đi đâu?”
Sau một lúc trầm ngâm lặng lẽ, chú đáp:
“Cái tốt ấy là, với cái thùng bác cho tôi thì ban đêm, nó là cái nhà cho con cừu nó
ngủ.”
“Hẳn là vậy. Và nếu mà chú ngoan, thì tôi sẽ cho thêm chú một sợi giây nữa để cột
con cừu lại ban ngày, và cho một cái cọc nữa.”
Lời đề nghị này dường như làm phật ý chú bé:
“Cột con cừu lại? Cái ý gì kỳ cục vậy!”
“Nhưng nếu chú không cột nó lại, nó sẽ chạy quàng, nó sẽ lạc lối đi…”
Người bạn nhỏ của tôi lại một phen cười rộ:
“Nhưng bác sợ nó chạy lạc đi đâu mới được chớ!”
“Bất cứ đâu đâu. Thẳng tới trước mặt…”
Bấy giờ hoàng tử bé mới trang nghiêm nhận định:
“Cái đó không hề gì, quê tôi nhỏ chút xíu đó mà.”
Rồi với một chút sầu tư, có lẽ, chú tiếp:
“Thẳng tới trước mặt, người ta đâu có thể đi xa chi mấy đâu…”
IV
Và như vậy, tôi lại được một phen nữa biết được một sự vụ tối quan hệ: ấy là tinh cầu
quê quán của chú bé, giỏi cho lắm thì cũng lớn hơn cái nhà một chút xíu thôi!
Điều đó cũng chẳng thể nào làm tôi ngạc nhiên chi lắm. Tôi biết rõ là ngoài những
tinh cầu to bự như Trái Đất, như Jupiter, Mars, Vénus, được thiên hạ đặt tên tuổi cho,
còn hàng trăm những tinh cầu khác, lắm khi nhỏ quá đến nỗi người ta khó nhọc lắm
mới nhìn thấy sơ bóng dáng qua ống kính viễn vọng. Khi một nhà thiên văn học
khám phá ra một trong những tiểu tinh cầu đó, thì ông cho nó một con số gọi là của
tin canh thiếp làm ghi. Ông gọi nó chả hạn: “tiểu tinh cầu 3251”.
Tôi có nhiều lý lẽ chắc chắn để tin rằng cái tinh cầu của hoàng tử từ đó về đây là tiểu
tinh cầu B 612. Tiểu tinh cầu nọ chỉ một lần được thấy bóng phía sau ống viễn vọng
vào năm 1909, bởi một nhà thiên văn học người Thổ Nhĩ Kỳ.
Ông ta đã từng mở một cuộc chứng minh đồ sộ về sự khám phá của mình tại một đại
hội quốc tế thiên văn (Thiên văn quốc tế hội nghị). Nhưng thuở đó không ai tin lời
ông cả. Vì lối y phục luộm thuộm của ông ta. Những người lớn, họ là như vậy đó.
May thay cho tăm tiếng của tiểu tinh cầu B 612, một nhà độc tài Thổ Nhĩ Kỳ đã ban
hành đạo luật cho toàn dân phải ăn vận theo lối sành điệu Âu Châu, nếu bất tuân phải
chịu tử hình.
Nhà thiên văn học nọ đến năm 1920, đã tái khai cuộc chứng minh một rận nữa, lần
này ông chỉnh tế ngăn nắp trong một bộ y phục rất mực bảnh bao nhẵn nhụi. Và lần
này mọi người thiên hạ cùng tán đồng nấc nở ý kiến của ông.
Nếu tôi kể lại cho bạn nghe những chi tiết này về tiểu tinh cầu B 612, và nếu tôi ký
thác cho bạn cái số hiệu của nó, ấy chỉ bởi tại những người lớn. Những người lớn, họ
ưa thích những con số. Khi anh nói với họ về một người bạn mới, họ chẳng bao giờ
hỏi anh về cái cốt yếu. Họ chẳng bao giờ hỏi: “Giọng nói của anh ta nghe ra thế nào?
Anh ta yêu chuộng trò chơi gì? Anh ta có thích sưu tập chuồn chuồn bươm bướm
chăng?” Họ lại hỏi: “Y bao nhiêu tuổi? Tứ tuần? Anh em, tớ thầy của y, lao xao sau
trước là bao nhiêu? Y cân nặng mấy trăm ký lô? Thân phụ của y lĩnh lương hằng
tháng là bao nhiêu thế?” Và chỉ từ đó trở đi thôi, họ mới tin rằng mình biết gã nọ. Nếu
anh nói với những người lớn: “Tôi có một ngôi nhà kiều diễm xây bằng gạch hồng
thắm, với những chậu hoa phong lữ thảo ở bệ cửa sổ, và những cặp bồ câu đậu ở mái
nhà…” họ sẽ không thể nào hình dung ra được cái nhà của anh. Phải bảo họ rằng:
“Tôi có thấy một ngôi nhà trị giá một trăm nghìn phật lăng.” Thì khi đó họ sẽ thốt to:
“Ồ! Sao mà xinh thế nhỉ.”
Vậy đó, nếu anh bảo: “Bằng chứng hoàng tử quả có thật ở trong đời, ấy là chú rất
quyến rũ dễ yêu, chú cười, chú muốn một con cừu. Một phen người ta muốn một con
cừu, thì đó là một phen có đủ bằng chứng là người ta hiện hữu”, thì những người lớn
sẽ nhún vai và coi anh là con nít! Nhưng nếu anh bảo: “Tinh cầu từ đó hoàng tử tới
đây là tiểu tinh cầu B 612” thì khi đó họ sẽ tâm đầu ý hiệp với anh ngay, siết tay du
khoái hả hê ngay, gọi rằng tâm phúc tương cờ ngay, và để yên cho anh túc mục an
lành với bao câu hỏi họ lăng xăng ngay. Họ là như vậy đó. Cũng chẳng nên hờn giận
họ làm chi. Con trẻ phải nên rất mực độ lượng với những người lớn.
Nhưng cố nhiên, chúng ta là kẻ am hiểu sự đời, chúng ta cứ mà tha hồ cợt cười những
con số! Tôi còn muốn khởi đầu câu chuyện này theo điệu mở đầu chuyện thiên thần
tiên nữ nữa là khác. Tôi còn ắt muốn nói:
“Thuở xưa kia từng đã một lần hoàng tử bé con, bé nhỏ, đã từng phen lưu trú tại một
tinh cầu chơi với bé bỏng, bé tí, có lớn hơn tí chút hoàng tử mà thôi, và hoàng tử đã
từng có thiết tha mong chờ một người bạn thiết…” Đối với những ai am hiểu cõi đời
tồn sinh mát mẻ, thì đó thật quả ắt có vẻ xác thực chân chính hơn nhiều.
Bởi vì tôi không muốn người ta đọc cuốn sách tôi theo lối phiêu hốt lai rai. Tôi cảm
thấy xiết bao sầu não khi kể những kỷ niệm này. Đã sáu năm tròn rồi, người bạn bé
nhỏ của tôi đã từ biệt ra đi với con cừu của tôi. Nếu tôi gắng thử miêu tả lại chàng, ấy
cũng là cốt để đừng quên nhau. Buồn xiết bao nếu phải quên một người bạn thiết. Đâu
có phải ai ai trong thiên hạ cũng đã có một người bạn thiết. Và chính tôi, tôi cũng có
thể từ sớm sang chiều, trở thành giống như những người lớn chỉ biết lưu tâm ý tới
những con số mà thôi. Chính cũng vì đó mà tôi đã mua một hộp màu và bút chì vậy.
Thật khổ nhọc xiết bao, cái việc khởi đầu trở lại vẽ hình, họa bóng, vào cái tuổi của
tôi khi mà người ta từ bấy tới nay nào có bao giờ biết mưu đồ gì khác ngoài cái sự rắp
ranh vẽ một con trăn khép bụng và một con trăn mở lòng, vào lúc lên sáu! Tất nhiên,
tôi sẽ gắng thử họa những chân dung giống được chừng nào hay chừng đó. Nhưng tôi
không hoàn toàn chắc dạ là mình sẽ thành công. Một tấm vẽ đi qua, hỏng rồi, một tấm
khác không còn giống như hình được nữa. Một dư ảnh gái đã lạc gót sen hương, một
dư huệ về sau không níu giữ trong ngón tay sầu xe chỉ nữa. Về tầm vóc hình dài, tôi
cũng nhầm lẫn chút ít. Đây, hoàng tử quá to. Kia, hoàng tử quá bé. Tôi cũng ngại
ngùng trước màu sắc y phục của em. Vậy nên chi tôi quờ quạng loăng quoăng thế này,
thế nọ, thế đó, thế kia, được cũng tốt, không được cũng cam. Rồi nữa, tôi cũng sẽ còn
lầm lẫn về đôi chi tiết quan trọng hơn. Nhưng cái đó, chỉ xin người hãy phải nên tha
thứ. Người bạn thiết của tôi chẳng bao giờ ban cho tôi một lời giải thích. “C'est les
vipères!”. Rồi thôi. Tôi bước bên đường kêu gọi mãi. Nhớ người bạn cũ thuở anh
niên. Nhưng bặt âm. Người bạn chắc có lẽ đã tưởng rằng tôi giống bạn. Nhưng khổ
thay, tôi chẳng biết làm thế nào nhìn thấy cho ra những con cừu ở bên kia những
thùng chứa. Có lẽ tôi cũng là có phần nào giống như những người lớn. Có lẽ tôi là kẻ
đã phải về già.
V
Mỗi ngày, tôi biết thêm chút ít về tinh cầu, về ly biệt, về viễn du. Cái đó tới rất dịu
dàng, tùy cơn ngẫu nhĩ ưu tư. Vậy đó, ngày thứ ba, tôi được biết tấn bi kịch của những
cây cẩm quỳ.
Lần này nữa cũng là nhờ con cừu, vì chứng đột ngột hoàng tử bé hỏi tôi, dường như
chàng đang chịu một cơn nghi hoặc trầm trọng:
“Thật vậy chăng ru, rằng những con cừu ăn cây cối nhỏ?”
“Vâng. Chính thật là vậy.”
“A! Tôi hài lòng lắm.”
Tôi chẳng rõ vì sao cái việc cừu ăn cây cối nhỏ lại là việc trọng đại. Nhưng hoàng tử
nhỏ tiếp:
“Vậy thì hẳn nhiên là cừu cũng ăn cây cẩm quỳ?”
Tôi bèn nói cho hoàng tử hiểu rằng cẩm quỳ không phải là loại cây cối nhỏ, mà thuộc
loại cây to bự như những ngôi nhà thờ, và cho dẫu chàng có lôi theo với mình một
bầy voi đồ sộ, cũng hồ dễ mà làm nao núng được mỗi một cây cẩm quỳ khổng lồ đơn
độc đó thôi.
Ý tưởng một bầy voi lớn rộng xui hoàng tử cười to:
“Vậy phải sắp đặt con voi này nằm chồng chất trên lưng con voi khác…”
Nhưng rồi hoàng tử lại thâm thúy nhận xét thêm:
“Những cây cẩm quỳ, trước khi lớn rộng, thì cũng phải khởi đầu bằng hình thù thân
thể nhỏ nhoi.”
“Đúng vậy! Nhưng tại sao chú muốn rằng những con cừu của chú phải ăn cây cẩm
quỳ?”
Chú đáp: “Hi! Khéo hỏi!” như chừng đó là một chuyện cố kỳ nhiên. Tôi phải gắng gỗ
kịch liệt cho thông minh nảy nở ra mới tự mình tìm hiểu được một mình vấn đề nọ.
Thật vậy, trên tinh cầu của hoàng tử bé, cũng như trên mọi tinh cầu, có những cỏ lành,
và những cỏ dữ. Do đó, có những hạt giống lành của cỏ lành, và những hạt giống dữ
của cỏ dữ. Nhưng hạt giống thì nhỏ, nên mắt không nhìn ra. Chúng nằm ngủ yên
trong thớ đất u huyền cho tới lúc cao hứng ùa về với một hạt nào trong lũ hạt nọ, và
cao hứng hạt nọ đột khỏi cơn thức giấc bò ra. Thế là hột nọ duỗi thân một cái, và
thoạt tiên e ấp nảy mầm, hướng tới ánh nắng mà ngoi đầu lên cho dài ra thành một đọt
cỏ non bé bỏng diễm kiều vô hại thơ ngây như hồn tuyết bạch gái. Nếu là một ngọn lá
cải củ, hoặc tường vi, thì thiên hạ có thể để mặc tình tha hồ nó mọc. Nhưng nếu là
một ngọn cỏ dữ, thì phải liệu mà rứt nhổ nó đi liền liền, khi người ta nhận ra nó là bê
bối. Mà trên tinh cầu của hoàng tử bé thì có những hạt giống kinh khủng… ấy là
những chủng tử cẩm quỳ. Đất đai tinh cầu bị nhiễm độc bởi những phôi châu ác liệt
nọ. Mà một cây cẩm quỳ, nếu người ta đối phó muộn màng một chút, thôi thì không
còn mong chi trừ khử nó được nữa. Nó sẽ làm rầy rà cho toàn khối tinh cầu. Nó sẽ
làm rầy rà cho toàn khối tinh cầu. Nó sẽ đâm rễ nó xuyên qua cho nứt rạn cả khối.
Nếu tinh cầu quá nhỏ, nếu những cây cẩm quỳ quá nhiều, thì tinh cầu ắt vỡ toang vì
chúng.
“Đấy là một vấn đề kỷ luật, sau này hoàng tử bảo tôi thế. Khi ta xong xuôi cuộc tắm
rửa thân mình buổi mai, thì phải chăm sóc kỹ lưỡng tới cuộc tắm rửa tinh cầu. Phải tự
ước thúc mình một cách đề huề đều đặn trong công việc trừ khử những cây cẩm quỳ
ngay khi ta chợt phân biệt ra chúng với những cây tường vi. Hai loại này, thuở sơ sinh
non dại trông giống hệt nhau. Công việc làm thật là chán ngấy, nhưng chả khó nhọc
gì.”
Và một ngày nọ, hoàng tử bé khuyên tôi hãy chịu khó gắng công hoàn thành một bức
họa đẹp, để mà đem sự nọ tạc vào kỹ lưỡng trong đầu óc những trẻ con xứ sở tôi.
Hoàng tử bảo: “Nếu có ngày chúng nó viễn du, thì việc đó sẽ hữu ích cho chúng lắm.
Đôi lúc kể ra thì cái sự trì hoãn công việc làm cũng chẳng là điều đáng ngại. Nhưng
nếu sự vụ có liên can tới cẩm quỳ, thì đó lại là một thảm họa khôn lường. Tôi có biết
một tinh cầu, tại đó một gã lười lưu trú. Gã coi nhẹ ba cây cối nhỏ…”
Và, thể theo những chỉ bảo của hoàng tử bé, tôi đã vẽ tinh cầu nọ. Tôi không thích lấy
giọng nhà đạo đức. Nhưng cái hiểm họa của cẩm quỳ lại rất ít kẻ am hiểu, và kẻ lạc
lõng nơi một tiểu tinh cầu bị hăm dọa bởi những nguy cơ đồ sộ đến nỗi tôi phải xin
phép, một lần, được sự dè dặt thường hằng vào trong vòng ngoại lệ, và xin nói liều.
Tôi xin nói: “Hỡi các bé con! Hãy coi chừng đó, những cây cẩm quỳ!” Chính vì muốn
báo trước cho những bạn thiết biết một mối nguy cơ từ lâu, cũng như tôi, họ đã từng
cọ vào sát mép mà chẳng hay chẳng biết, vâng, chính vì thế mà tôi đã cố gắng mài
miệt rất nhiều để hoàn thành bức tranh ấy. Bài học tôi đưa ra, thật cũng đáng cái công
lao. Các anh sẽ tự hỏi có lẽ: Tại sao trong cuốn sách này chẳng có bức nào đồ sộ như
bức tranh cẩm quỳ? Lời đáp rất đơn giản: Tôi đã gắng gỗ, nhưng không thể thành
công. Lúc tôi vẽ những cây cẩm quỳ, tôi đã bị thôi thúc bởi tình cảm bức bách.
VI
A! Hoàng tử bé ơi, tôi đã lần hồi hiểu, theo vậy đó, cuộc đời bé bỏng sầu tư của chú.
Từ lâu, chú chỉ có một chút khiển muộn, là bóng chiều vàng êm ả. Tôi đã rõ chi tiết
mới mẻ này, vào buổi mai ngày thứ tư, lúc chú bảo:
“Tôi yêu chuộng những buổi chiều hồng. Chúng ta hãy đi nhìn một cảnh mặt trời
lặn…”
“Nhưng phải chờ…”
“Chờ gì?”
“Chờ cho mặt trời lặn.”
Thoạt tiên, chú đã tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi sau đó chú đã tự cười mình lẩn thẩn. Chú bảo:
“Tôi cứ tưởng mình luôn luôn ở tại quê hương xứ sở.”
Thật vậy. Khi tại Huê Kỳ, mặt trời đứng ngọ, thì ai cũng biết rằng tại Pháp, mặt trời
đương lặn. Chỉ cần có thể chạy bay trong một phút sang Pháp là có thể ngắm một
cảnh hoàng hôn. Rủi thay nước Pháp lại quá xa vời. Nhưng, tại trên tinh cầu tí tẻo của
hoàng tử bé, hoàng tử chỉ cần kéo đẩy sơ cái ghế ngồi một chút. Và hoàng tử nhìn
thấy cảnh mặt trời lặn tùy thích bất cứ lúc nào…
“Một ngày nọ, tôi đã nhìn mặt trời lặn liên tiếp bốn mươi ba lần!”
Và ít lâu sau, chú nói thêm:
“Bác biết đó… lúc người ta buồn quá đỗi, người ta yêu dấu cảnh mặt trời lặn xiết
bao…”
“Cái ngày chú nhìn bốn mươi ba lần nọ, chú đã buồn quá đỗi phải không?
Nhưng hoàng tử bé không đáp.
VII
Ngày thứ năm, vẫn cũng vì con cừu, sự bí ẩn trong cuộc đời hoàng tử bé được biểu lộ.
Đột ngột hoàng tử hỏi tôi, không nhập đề gì ráo, như đó là kết quả một vấn đề đã
được trầm ngâm suy gẫm lâu rồi.
“Một con cừu, nếu có ăn cây cối nhỏ, thì nó cũng ăn những đóa hoa.”
“Một con cừu thì ăn bất cứ cái gì nó gặp. Bạ đâu ăn đó rất mực bừa bãi vậy.”
“Cả những cành hoa có gai nhọn?”
“Ừ. Cả những cành hoa có gai nhọn.”
“Vậy thì những gai nhọn, dùng vào việc chi?”
Tôi không biết điều đó. Lúc ấy tôi hết sức bận, loay hoay vặn một cái đinh bù lon ăn
cứng trong máy phi cơ. Tôi bận tâm lo lắng lắm, vì trận hỏng máy này đã bắt đầu cho
thấy quá trầm trọng, và nước uống cứ hao cạn hoài xui tôi lo sợ nặng nề: càng ngày
càng khốn đốn về sau.
“Những gai nhọn dùng vào việc chi?”
Hoàng tử bé không bao giờ rút lui câu hỏi, mỗi phen chú đã nêu nó ra rồi. Tôi đã bực
mình vì cái bù lon, nên đáp bừa:
“Gai nhọn, không dùng vào cái tích sự chi ráo, đó chỉ là cái ác hại thuần túy của hoa!”
“Ồ!”
Nhưng sau một lúc im lặng chú văng ra một câu, với giọng thật là oán hận:
“Tôi không tin lời bác! Hoa mảnh khảnh lắm. Hoa thơ dại lắm. Hoa phải tự gắng làm
cho mình yên dạ phần nào hay phần nấy. Hoa tự nghĩ là mình ắt ghê gớm lắm với
những gai nhọn của mình…”
Tôi không trả lời. Lúc đó tôi tự nhủ: “Nếu cái đinh bù lon này mà còn cứng cổ, thì ta
sẽ đập một nhát búa vào thì nó phải nhảy tung ngay”. Hoàng tử nhỏ lại quấy rầy ý
tưởng tôi:
“Và bác tưởng, bác tưởng rằng hoa…”
“Nhưng không! Không! Tôi chẳng tưởng tư gì ráo ráo! Tôi trả lời bạ đâu bù đó. Tôi
bận tâm lo chuyện hệ trọng!”
Chú đờ đẫn nhìn tôi.
“Bận tâm lo chuyện hệ trọng!”
Chú nhìn tôi bàn tay cầm búa, ngón tay đen sì những dầu nhớt, đương nghiêng thân
trên một cái vật chú xem ra xấu xí quá.
“Bác nói chuyện nghe như những người lớn!”
Câu đó làm tôi thấy hổ thẹn chút ít. Nhưng chú vẫn tiếp tục:
“Bác lẫn lộn tuốt luốt hết! Lẫn lộn tuốt hết.”
Trông chú thật quả là cáu tiết. Chú lắc đầu tóc vàng óng bay tung trong gió:
“Tôi biết một tinh cầu có một Ông Cụ mặt đỏ như gấc chín. Chẳng bao giờ ông ta ngó
một ngôi sao. Chẳng bao giờ ông ta yêu ai hết. Chẳng bao giờ ông ta làm một cái việc
chi khác, ngoài cái việc làm những bài toán cọng. Và suốt ngày ông ta lặp đi lặp lại y
hệt như bác: “Tôi là một con người trang nghiêm! Tôi là một con người trang nghiêm”
và cái đó làm ông ta phình to lên cái lỗ mũi tự hào. Nhưng đó không phải một con
người, đó là một cái nấm!”
“Một cái gì?”
“Một cái nấm!”
Hoàng tử bé bây giờ mặt mày tái xanh vì tức giận.
“Từ hàng triệu năm rồi, hoa đã tạo gai. Từ hàng triệu năm rồi cừu vẫn cứ ăn hoa. Và
cái sự tìm hiểu xem tại sao mà hoa phải nhọc mệt tạo mãi những gai nhọn chẳng dùng
được vào việc gì gì hết cả, sự đó chẳng phải là chuyện nghiêm trang hay sao? Cuộc
chiến tranh giữa cừu và hoa, không phải là chuyện hệ trọng hay sao? Chẳng nghiêm
trang hệ trọng hơn những bài toán cọng của ông cụ bự đỏ như gấc chín hay sao? Và
nếu tôi có biết, chính tôi có biết một đóa hoa duy nhất ở đời, không đâu có cả, ngoài
tinh cầu tôi, và nếu một con cừu bé có thể rỡn chơi liếm sơ qua một chút, mà tiêu diệt
tan hoang mất cái đóa hoa ấy như vậy đó trong một buổi mai dịu dàng và chẳng nhận
thấy rằng cái việc mình làm kia gớm guốc thế nào, đó không phải là chuyện hệ trọng
hay sao?
Chú đỏ mặt, rồi tiếp:
“Nếu có một kẻ yêu một đóa hoa duy nhất chỉ duy có một mà thôi trong hàng triệu
triệu tinh cầu, chừng đó đủ để kẻ ấy sung sướng lúc nhìn ngàn sao ở trên trời. Anh ta
tự nhủ: “Đóa hoa của mình hiện nằm tại đó, nơi đó, chốn kia…”. Nhưng nếu con cừu
ăn đóa hoa, thì sự đó đối với anh ta cũng như thể là đột nhiên trong một nháy ngàn
ngàn ngôi sao thình lình tắt lịm! Và đó, không phải là chuyện hệ trọng hay sao!
Chú không nói thêm gì được nữa. Đột nhiên, chú òa lên khóc. Đêm xuống rồi. Tôi bỏ
rơi tay búa. Tôi chả còn sá gì búa dao bù lon nữa, chả thiết chi tới chuyện chết khác,
chết đói. Trên một tinh cầu, tinh cầu của tôi, trên Địa cầu của tôi, có một hoàng tử bé
cần được an ủi! Tôi ôm chú vào lòng. Tôi ru. Tôi bảo: “Đóa hoa chú yêu dấu đó
không gặp nguy hại gì đâu… Tôi sẽ vẽ thêm một cái rọ bịt mõm vào cái mồm con cừu
của chú… Tôi sẽ vẽ một tấm áo giáp sắt cho đóa hoa của chú… Tôi sẽ…”. Tôi chẳng
còn biết nói chi nữa. Tôi thấy mình vụng về quá. Tôi không biết làm cách gì để đi tới
cõi lòng chú, gặp gỡ linh hồn chú… Thật huyền bí không xiết, là cái xứ sở của lệ
vàng.
VIII
Tôi đã sớm biết rõ đóa hoa kia. Từ xưa, trên hành tinh của hoàng tử bé, luôn luôn có
những cành hoa rất đơn sơ, điểm trang bằng một hàng cánh hoa thưa thớt, không
choán chỗ gì nhiều, không làm phiền rộn ai. Các đóa hoa hiển hiện một sớm mai trên
đồng cỏ, rồi tàn rụng lúc chiều hôm. Nhưng còn đóa hoa riêng biệt nọ đã nảy mầm
một ngày kia, do một chủng tử chẳng rõ từ đâu tới, và hoàng tử bé đã từng chăm sóc
thiết thân cái ngọn lá kia, trông không giống chút nào những ngọn lá khác. Đó có thể
là một loại cẩm quỳ mới. Nhưng mà cành cây nhỏ sớm dừng phát triển, và khởi sự
soạn sửa cho nảy nở một đóa hoa. Hoàng tử bé chứng giám cuộc hình thành một búp
hoa đồ sộ, đã linh cảm chắc chắn rằng một sự hiển hiện huyền ảo sẽ xảy tới, nhưng
đóa hoa vẫn không ngừng soạn sửa cho càng thêm kiều diễm, mỗi mỗi ngày cư trú êm
đềm trong căn phòng xanh lục. Nường chọn lựa kỹ lưỡng màu sắc cho mình. Nường
vận xiêm y một cách thật thong dong chậm rãi, nường sửa sang, xếp đặt từng mỗi mỗi
cánh hoa của mình. Nường không muốn xuất hiện tả tơi nhàu nát như những cành mỹ
nhân thảo, hoặc những đóa hoa anh túc. Nường chỉ muốn xuất hiện trong vẻ sáng
ngời lộng lẫy mở phơi của dung nhan kiều lệ. Ê, vâng ạ. Nường rất ưa làm duyên!
Xiêm y huyền bí của nường như vật lạ hằng hằng soạn sửa từng ngày, từng tuần, từng
cữ… Và thế đó một sáng mai kia, chính lúc vừng hồng trỗi dậy, nường đã lồ lộ hiện
thân thập thành tráng lệ.
Nường, nường đã chăm nom chỉnh bị xiết bao tỷ mỷ chú tâm nường lại giả vờ ngáp
dài một cái, và dã dượi bảo rằng:
“A! Thiếp mới chớm trở giấc. Xin chàng thứ lỗi. Đầu tóc của thiếp tóc còn xổ bung
rối bù.”
Hoàng tử bé bấy giờ không kìm hãm nỗi lòng lâng lâng thán phục:
“Sao mà nường đẹp thế!”
“Phải chăng? Thật chăng? Chàng hãy nhớ rằng thiếp sinh ra đời song song với vừng
dương đó ạ…”
Hoàng tử bé cũng đoán biết là nường ta chẳng phải nhũn nhặn khiêm nhượng gì cho
lắm, nhưng sao mà nàng xui lòng cảm động đến thế!
“Có lẽ đã tới giờ điểm tâm, nàng nói tiếp, chàng có chút độ lượng bao dung nào đối
với thiếp thì, xin hãy…”
Và hoàng tử bé ngượng ngùng đầy mặt, đã chạy đi tìm chiếc thùng tưới đầy ắp nước
trong veo phơi phới mang về phục vụ đóa hoa.
Thế đó, nường đã sắp khiến chàng chịu bao cơn loay hoay bối rối, ấy cũng bởi cái
thói ưa làm đỏm khoe khoang pha chút hoài nghi e e ngại ngại. Chả hạn một ngày kia
nói tới bốn cái gai nhọn của nường, nường đã bảo:
“Chúng có thể tới lắm, những con cọp với những vuốt nanh nhọn nanh nhe của
chúng!”
“Trên tinh cầu của tôi không có cọp đâu, hoàng từ bé đáp, vả chăng cọp không có ăn
cỏ.”
“Thiếp không phải là một lá cỏ”, đóa hoa đã dịu dàng đáp.
“Xin lỗi nường…”
“Thiếp chẳng sợ gì cọp, chỉ duy có ghê sợ những trận gió lò mà thôi. Chắc đâu rằng
chàng có một tấm bình phong che gió?”
“Ghê sợ gió lò… thật chả hay ho gì, đối với một ngành thảo một, hoàng tử bé nhận xét
như vậy. Đóa hoa này coi có bộ ưa sinh chuyện phiền phức đa đoan lắm lắm…”
“Chiều hôm sương xuống chàng hãy đặt thiếp trong bầu tròn. Nơi nhà chàng rét buốt
lắm. Chẳng đặt định đúng hướng gì lắm đó. Nơi quê tôi…”
Nhưng nàng chợt ngừng môi. Nàng đã về đây trong hình hài hạt giống. Nường biết
đâu vào đâu mà nói tới những cõi miền xa lạ. Ngượng nghịu xấu hổ vì bị bắt quả tang
sắp giở trò bố láo một cách khờ khạo vụng về, nường đã ho ho hai ba tiếng hắc hắc,
cố tình đẩy hoàng tử vào cõi lầm lỗi cho mới cam tâm:
“Tấm bình phong kia...
Antoine de Saint-Exupéry
(Bùi Giáng dịch)
Nguyên tác: Le Petit Prince (1943)
NXB An Tiêm tái bản lần thứ nhất năm 1973.
In 4050 cuốn trên toàn giấy bristol 120.
Xếp chữ tại nhà in Hồng Hà, 82 Trần Bình Trọng, Sài Gòn.
Chạy offset tại nhà in Võ Tánh, 29 Võ tánh, Sài Gòn.
Xếp máy vô bìa tại nhà in Thăng Long, 220 Trương Minh Giảng, Sài Gòn.
Hoàn thành sách ngày 9.11.1973.
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: https://sachmoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Mục Lục
Gửi Léon Werth..
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
PHỤ LỤC
Tiểu sử Antoine de Saint-Exupery
Thơ
Tiểu sử Bùi Giáng
Gửi Léon Werth..
Tôi xin lỗi các bé con, vì đã đề tặng cuốn sách này cho một người lớn. Tôi có một lẽ
chân xác để tự bào chữa, và xin được thứ lỗi: người lớn nọ là người bạn chí thiết
trong đời tôi. Tôi còn một lẽ nữa: người lớn nọ có thể hiểu hết mọi sự ngay cả
những cuốn sách viết cho bé con, người ấy cũng hiểu nốt. Tôi còn một lẽ thứ ba để
được tha thứ: người lớn nọ hiện sống ở nước Pháp, và đang chịu đói và rét. Y thật
cần được an ủi. Nếu tất cả những lẽ đó không đủ để bào chữa cho mình, thì tôi rất
muốn đề tặng cuốn sách này cho đứa con mà xưa kia người lớn nọ vốn đã từng là
(nó) vậy. Mọi người lớn, ban sơ, đều đã từng là những bé con. (Nhưng ít người trong
số đó ghi nhớ điều kia). Vậy tôi xin sửa chữa lời đề tặng:
Gửi Léon Werth
Thuở ông ta còn là bé con
I
Thuở lên sáu, một lần nọ tôi thấy một bức tranh lộng lẫy, trong một cuốn sách viết về
rừng thẳm nhan đề Sự tích đã sống. Bức tranh đó họa một con trăn đương nuốt con
mãnh thú. Trên đây là bản đồ mô phỏng bức họa kia.
Trong cuốn sách người ta nói: “Giống trăn nuốt toàn thể con mồi không nhai nghiền
gì cả. Rồi sau đó, giống trăn không còn có thể rục rịch nữa, nên nằm ngủ ròng rã suốt
sáu tháng trời là thời gian tiêu hóa”.
Từ đó, tôi đã suy ngẫm rất nhiều về những trận lưu ly mạo hiểm của rừng sâu và, tới
phen mình, tôi cũng đã dùng một cây bút chì màu mà vẽ nên bức họa đầu tiên. Bức
họa số 1. Nó như thế này:
Tôi có đưa cho những người lớn xem kiệt tác của mình, và hỏi họ có kinh khiếp trước
bức họa kia không.
Họ đáp: “Làm sao một cái mũ lại có thể xui người ta kinh khiếp?”
Bức họa của tôi không thể hiện một cái mũ. Nó vẽ một con trăn đương nằm tiêu hóa
một con voi. Tôi bèn vẽ phía trong của cái bụng con trăn, cốt là để cho người lớn dễ
lĩnh hội. Người lớn bao giờ cũng cần có những sự giảng giải thì họ mới hiểu. Bức họa
thứ hai của tôi nó như thế này:
Những người lớn đã khuyên tôi nên gác lại một bên những thứ họa trăn, trăn mở bụng
hoặc trăn khép bao tử, và hãy nên chuyên tâm vào bài học địa dư, sử ký, tính toán và
văn phạm. Thế là thuở lên sáu, tôi đã đành bỏ dở một tiền đồ sự nghiệp họa sĩ huy
hoàng. Tôi đã chán nản vì sự thất bại của bức họa số 1 và bức họa số 2. Những người
lớn chẳng bao giờ tự mình hiểu được cái gì cả, và trẻ bé nếu cứ phải giải thích đi giải
thích lại, mãi mãi, hoài hoài, cho họ hiểu, quả thật là điều mệt nhọc vô cùng.
Thế là tôi đành phải chọn một nghề khác, và tôi đã học lái máy bay. Tôi đã bay lăng
quăng khắp chốn trên địa cầu. Và quả thật, môn địa dư đã có giúp ích tôi nhiều. Tôi
chỉ cần thoáng nhìn qua một cái, là nhận ra được đất Trung Hoa từ quận Arizona. Sự
đó rất cần ích, nếu ta lạc nẻo giữa ban đêm.
Và như thế, trong đời tôi, tôi đã từng tiếp xúc hàng đống bự, với hàng khối bự những
nhân vật bảnh bao. Tôi đã từng sống nhiều ngày nơi nhà những người tai to mặt lớn.
Tôi nhìn họ ở sát nhãn quan mình. Và điều đó chả có canh cải ý kiến của tôi được chi
mấy chút.
Lúc nào tôi gặp một kẻ nào trong bọn họ, xem ra có vẻ sáng suốt một tí, thì tôi lại thử
làm cuộc thí nghiệm về họ với bức họa số 1 của mình mà tôi vẫn còn giữ luôn luôn.
Tôi muốn rõ xem họ có thật quả là sáng ý hay không. Hay vẫn tối dạ như lẽ hằng.
Nhưng luôn luôn họ bảo tôi: “Đấy là một cái mũ”. Vậy thì tôi chẳng nói gì nữa với họ,
chẳng nói gì về giống trăn, về rừng hoang, rú thẳm, chẳng nói gì về những ngôi sao
trên trời. Tôi hạ mình xuống cho ngang tầm khả năng của họ. Tôi nói về cách đánh
bài, đánh cầu, về chính trị và về ca vát, những lối thắt “nơ”. Và người lớn đã rất hài
lòng được quen biết một con người sao mà lịch thiệp thấu lẽ thị phi đến thế.
II
Thế là tôi đã sống cô đơn vậy đó, không ai để chuyện trò thật sự, cho tới ngày phi cơ
hỏng máy rơi tòm giữa sa mạc Sahara, cách đây sáu năm. Một cái trục, một cái chốt
nào đã gãy lìa trong máy. Và vì lúc lên phi cơ không có đem theo thợ máy, cũng
không chở hành khách, tôi phải một mình lo toan cuộc chữa chạy hì hục khó khăn.
Một vấn đề sống chết. Tôi chỉ còn đủ nước để dùng giỏi lắm là trong tám ngày thôi.
Đêm đầu, tôi đành phải nằm ngủ trên cát ở ngàn ngàn dặm để cách biệt với mọi miền
có người ta cư trú. Tôi đã chịu biệt lập còn hơn một kẻ đắm tàu, bó gối ngồi trên chiếc
bè giữa sóng gió đại dương. Thì hẳn bạn cũng hình dung ra cơn ngạc nhiên của tôi,
lúc bình mình đến, chợt một giọng nói nhỏ lớ ngớ kỳ lạ bỗng đánh thức tôi dậy:
“Nếu vui lòng… hãy vẽ cho tôi một con cừu!”
“Hả!”
“Vẽ cho tôi một con cừu…”
Tôi nhảy nhổm dậy một cái trên hai chân như bị sấm sét đập vào lưng. Tôi giụi tay lên
hai mắt. Tôi mở to mắt ra nhìn. Và tôi thấy một chú chàng tí hon rất mực kỳ lạ đương
chằm chặp trầm trọng nhìn tôi. Đây là bức chân dung khá nhất về chú bé mà sau này
tôi đã gắng thực hiện được. Nhưng cố nhiên, bức tranh của tôi, đẹp là thế đó, vẫn còn
thua xa dáng dấp tuyệt vời của chú bé. Đó chẳng phải lỗi tại tôi. Từ lâu, từ thuở mới
lên sáu, tôi đã quá nản lòng trong nghề nghiệp hội họa bởi tại những người lớn, và
nào tôi có học vẽ được cái gì đâu, ngoài những con trăn khép bụng và những con trăn
mở bao tử.
Thế là tôi chằm chặp nhìn sự đột hiện huyền ảo nọ, nhìn với hai con mắt tròn xoe
kinh ngạc. Đừng quên rằng lúc đó, tôi hiện đương ở cách xa những miền cư trú của
con người, xa đến ngàn ngàn dặm đất. Thế mà chú bé tí hon của tôi lại chẳng có vẻ gì
lạc lối, chẳng có vẻ gì là mỏi mệt, hoặc chết đói, hoặc chết khát, hoặc chết vì kinh
hoàng. Chú bé chẳng có vẻ gì một đứa trẻ lạc lỏng giữa sa mạc, ở cách cõi sống của
con người ngàn ngàn dặm đất. Cho tới lúc tôi gắng gỗ thốt được lời ra tiếng, thì tôi
bảo:
“Nhưng… nhưng mà chú bé làm cái gì tại đây vậy?”
Và chú bé dịu dàng lặp lại lời cũ, như dường coi đó là một sự vụ rất trang trọng:
“Nếu ông vui lòng… xin vẽ cho tôi một con cừu…”
Khi sự huyền bí nó quá mức kích động thì người ta không dám bất tuân. Dẫu sự vụ
kia xảy ra có vẻ phi lý bao nhiêu đi nữa ở cách xa ngàn dặm mọi chốn cư trú của con
người và đứng trước hiểm họa thập tử nhất sinh, tôi vẫn rút trong túi ra một tờ giấy và
một cây bút máy. Nhưng tôi chợt nhớ ra là mình vốn nghiên cứu nhiều nhất là môn
địa dư, sử ký toán tính, và văn phạm, và tôi bảo với chú bé (với một chút bực dọc)
rằng tôi đâu có biết vẽ. Chú đáp:
“Không hề gì. Vẽ cho tôi một con cừu đi”.
Vì tôi vốn từ xưa chẳng bao giờ có vẽ một con cừu, nên tôi đành vẽ lại cho chú một
trong hai cái loại tranh trong vòng khả năng của tôi. Đó là bức tranh con trăn khép
bụng. Và tôi đờ đẫn kinh ngạc khi nghe chú bé tí hon đáp:
“Không! Không! Tôi không muốn, tôi không thích cái con voi trong bụng cái con
trăn. Một con trăn, thật là nguy hiểm, và một con voi, thì thật là lịch kịch rầy rà. Quê
tôi thì bé tí. Tôi cần một con cừu. Hãy vẽ cho một con cừu đi.”
Và tôi đã vẽ.
Chú bé chăm chú nhìn, rồi nói:
“Không! Con này coi đã ốm yếu quá. Vẽ một con khác đi.”
Tôi vẽ.
Người bạn nhỏ mỉm cười một cách thật dễ thương, với giọng bao dung:
“Bác thấy đó… đó không phải là một con cừu, đó là một con dê đực, nó có hai cái
sừng…”
Vậy là tôi phải vẽ trở lại.
Nhưng bức này cũng bị từ khước, như mấy bức trước:
“Con này coi già nua cọm rọm quá. Tôi muốn một con cừu sống sao cho thật lâu.”
Vậy là tôi mất kiên nhẫn, vì bận lo khởi sự vội vã tháo máy ra xem, tôi nguệch ngoạc
vẽ bừa bức tranh sau đây.
Tôi văng ra một lời:
“Đó, đó là cái thùng. Con cừu chú muốn, nó nằm ở trong ấy.”
Nhưng tôi kinh ngạc xiết bao khi nhìn thấy gương mặt chú “quan tòa” nhỏ dại bỗng
rạng ngời ra:
“Thật đúng y như hệt! Đó là cái tôi muốn đó! Bác nghĩ có cần nhiều cỏ cho con cừu
nó ăn?”
“Vì sao hỏi vậy?”
“Vì quê tôi, thật bé tí…”
“Không hề gì. Vẫn đủ được lắm, chắc chắn vậy. Tôi cho chú một con cừu thật bé tí đó
mà.”
Chú nghiêng đầu lên bức tranh:
“Không thật bé tí lắm đâu… Coi kìa! Nó đã ngủ rồi.”
Và như vậy đó, tôi đã làm quen với hoàng tử bé.
III
Phải một thời gian lâu tôi mới rõ chú bé từ đâu lại. Hoàng tử tí hon, vốn chất vấn tôi
rất nhiều, lại chẳng bao giờ có vẻ nghe những câu tôi hỏi. Chỉ nhân những tiếng thốt
tình cờ, những lời nói ngẫu nhiên, mà dần dà tôi rõ được hết mọi sự. Chả hạn như khi
chú bé nhìn thấy phi cơ của tôi lần đầu tiên (tôi sẽ không vẽ phi cơ tôi, đó là bức tranh
quá phiền phức đối với tôi) chú hỏi:
“Cái đó là cái vật chi thế?”
“Đó không phải là cái vật. Đó biết bay. Đó là phi cơ. Đó là phi cơ của tôi đấy.”
Và tôi rất hãnh diện lúc cho chú bé biết rằng tôi là phi công bay. Chú thốt lớn:
“Sao! Bác từ trên trời rớt xuống!”
“Vâng”, tôi nhũn nhặn đáp.
“A! Đó là cái lạ…”
Và hoàng tử bé cười rộ một cái thật tươi xinh, làm tôi phát cáu. Tôi muốn rằng thiên
hạ phải coi trầm trọng những hoạn nạn của tôi. Rồi chú hoàng bé nói tiếp:
“Thế thì té ra bác cũng rớt từ trên trời xuống! Bác ở tinh cầu nào?”
Tôi chợt thoáng nhận thấy một tia mờ, lóe ra giữa huyền bí của sự hiện diện hoàng tử,
và tôi đột ngột hỏi:
“Chú bé cũng từ một tinh cầu khác mà tới đây?”
Nhưng chú bé không đáp. Chú ngẩng đầu dịu dàng một cái, vẫn nhìn phi cơ tôi:
“Thật thì nằm ở trong đó, bác chẳng có thể nào tới đây từ một cõi xa xôi gì cho
lắm…”
Và chú bé chìm vào trong một cơn mơ kéo dài dậm duộc. Rồi rút trong túi ra con cừu
của tôi, chú triền miên ngắm nghía kho tàng mình.
Bạn cũng hình dung được là tôi đã xiết bao khích động hiếu kỳ bởi chút thổ lộ nửa vời
về “những tinh cầu khác” nọ. Tôi gắng tìm cách hiểu thêm:
“Này chú bé ơi, chú từ đâu tới? Đâu là cái chốn “quê của chú”? Chú định mang con
cừu tôi đi đâu?”
Sau một lúc trầm ngâm lặng lẽ, chú đáp:
“Cái tốt ấy là, với cái thùng bác cho tôi thì ban đêm, nó là cái nhà cho con cừu nó
ngủ.”
“Hẳn là vậy. Và nếu mà chú ngoan, thì tôi sẽ cho thêm chú một sợi giây nữa để cột
con cừu lại ban ngày, và cho một cái cọc nữa.”
Lời đề nghị này dường như làm phật ý chú bé:
“Cột con cừu lại? Cái ý gì kỳ cục vậy!”
“Nhưng nếu chú không cột nó lại, nó sẽ chạy quàng, nó sẽ lạc lối đi…”
Người bạn nhỏ của tôi lại một phen cười rộ:
“Nhưng bác sợ nó chạy lạc đi đâu mới được chớ!”
“Bất cứ đâu đâu. Thẳng tới trước mặt…”
Bấy giờ hoàng tử bé mới trang nghiêm nhận định:
“Cái đó không hề gì, quê tôi nhỏ chút xíu đó mà.”
Rồi với một chút sầu tư, có lẽ, chú tiếp:
“Thẳng tới trước mặt, người ta đâu có thể đi xa chi mấy đâu…”
IV
Và như vậy, tôi lại được một phen nữa biết được một sự vụ tối quan hệ: ấy là tinh cầu
quê quán của chú bé, giỏi cho lắm thì cũng lớn hơn cái nhà một chút xíu thôi!
Điều đó cũng chẳng thể nào làm tôi ngạc nhiên chi lắm. Tôi biết rõ là ngoài những
tinh cầu to bự như Trái Đất, như Jupiter, Mars, Vénus, được thiên hạ đặt tên tuổi cho,
còn hàng trăm những tinh cầu khác, lắm khi nhỏ quá đến nỗi người ta khó nhọc lắm
mới nhìn thấy sơ bóng dáng qua ống kính viễn vọng. Khi một nhà thiên văn học
khám phá ra một trong những tiểu tinh cầu đó, thì ông cho nó một con số gọi là của
tin canh thiếp làm ghi. Ông gọi nó chả hạn: “tiểu tinh cầu 3251”.
Tôi có nhiều lý lẽ chắc chắn để tin rằng cái tinh cầu của hoàng tử từ đó về đây là tiểu
tinh cầu B 612. Tiểu tinh cầu nọ chỉ một lần được thấy bóng phía sau ống viễn vọng
vào năm 1909, bởi một nhà thiên văn học người Thổ Nhĩ Kỳ.
Ông ta đã từng mở một cuộc chứng minh đồ sộ về sự khám phá của mình tại một đại
hội quốc tế thiên văn (Thiên văn quốc tế hội nghị). Nhưng thuở đó không ai tin lời
ông cả. Vì lối y phục luộm thuộm của ông ta. Những người lớn, họ là như vậy đó.
May thay cho tăm tiếng của tiểu tinh cầu B 612, một nhà độc tài Thổ Nhĩ Kỳ đã ban
hành đạo luật cho toàn dân phải ăn vận theo lối sành điệu Âu Châu, nếu bất tuân phải
chịu tử hình.
Nhà thiên văn học nọ đến năm 1920, đã tái khai cuộc chứng minh một rận nữa, lần
này ông chỉnh tế ngăn nắp trong một bộ y phục rất mực bảnh bao nhẵn nhụi. Và lần
này mọi người thiên hạ cùng tán đồng nấc nở ý kiến của ông.
Nếu tôi kể lại cho bạn nghe những chi tiết này về tiểu tinh cầu B 612, và nếu tôi ký
thác cho bạn cái số hiệu của nó, ấy chỉ bởi tại những người lớn. Những người lớn, họ
ưa thích những con số. Khi anh nói với họ về một người bạn mới, họ chẳng bao giờ
hỏi anh về cái cốt yếu. Họ chẳng bao giờ hỏi: “Giọng nói của anh ta nghe ra thế nào?
Anh ta yêu chuộng trò chơi gì? Anh ta có thích sưu tập chuồn chuồn bươm bướm
chăng?” Họ lại hỏi: “Y bao nhiêu tuổi? Tứ tuần? Anh em, tớ thầy của y, lao xao sau
trước là bao nhiêu? Y cân nặng mấy trăm ký lô? Thân phụ của y lĩnh lương hằng
tháng là bao nhiêu thế?” Và chỉ từ đó trở đi thôi, họ mới tin rằng mình biết gã nọ. Nếu
anh nói với những người lớn: “Tôi có một ngôi nhà kiều diễm xây bằng gạch hồng
thắm, với những chậu hoa phong lữ thảo ở bệ cửa sổ, và những cặp bồ câu đậu ở mái
nhà…” họ sẽ không thể nào hình dung ra được cái nhà của anh. Phải bảo họ rằng:
“Tôi có thấy một ngôi nhà trị giá một trăm nghìn phật lăng.” Thì khi đó họ sẽ thốt to:
“Ồ! Sao mà xinh thế nhỉ.”
Vậy đó, nếu anh bảo: “Bằng chứng hoàng tử quả có thật ở trong đời, ấy là chú rất
quyến rũ dễ yêu, chú cười, chú muốn một con cừu. Một phen người ta muốn một con
cừu, thì đó là một phen có đủ bằng chứng là người ta hiện hữu”, thì những người lớn
sẽ nhún vai và coi anh là con nít! Nhưng nếu anh bảo: “Tinh cầu từ đó hoàng tử tới
đây là tiểu tinh cầu B 612” thì khi đó họ sẽ tâm đầu ý hiệp với anh ngay, siết tay du
khoái hả hê ngay, gọi rằng tâm phúc tương cờ ngay, và để yên cho anh túc mục an
lành với bao câu hỏi họ lăng xăng ngay. Họ là như vậy đó. Cũng chẳng nên hờn giận
họ làm chi. Con trẻ phải nên rất mực độ lượng với những người lớn.
Nhưng cố nhiên, chúng ta là kẻ am hiểu sự đời, chúng ta cứ mà tha hồ cợt cười những
con số! Tôi còn muốn khởi đầu câu chuyện này theo điệu mở đầu chuyện thiên thần
tiên nữ nữa là khác. Tôi còn ắt muốn nói:
“Thuở xưa kia từng đã một lần hoàng tử bé con, bé nhỏ, đã từng phen lưu trú tại một
tinh cầu chơi với bé bỏng, bé tí, có lớn hơn tí chút hoàng tử mà thôi, và hoàng tử đã
từng có thiết tha mong chờ một người bạn thiết…” Đối với những ai am hiểu cõi đời
tồn sinh mát mẻ, thì đó thật quả ắt có vẻ xác thực chân chính hơn nhiều.
Bởi vì tôi không muốn người ta đọc cuốn sách tôi theo lối phiêu hốt lai rai. Tôi cảm
thấy xiết bao sầu não khi kể những kỷ niệm này. Đã sáu năm tròn rồi, người bạn bé
nhỏ của tôi đã từ biệt ra đi với con cừu của tôi. Nếu tôi gắng thử miêu tả lại chàng, ấy
cũng là cốt để đừng quên nhau. Buồn xiết bao nếu phải quên một người bạn thiết. Đâu
có phải ai ai trong thiên hạ cũng đã có một người bạn thiết. Và chính tôi, tôi cũng có
thể từ sớm sang chiều, trở thành giống như những người lớn chỉ biết lưu tâm ý tới
những con số mà thôi. Chính cũng vì đó mà tôi đã mua một hộp màu và bút chì vậy.
Thật khổ nhọc xiết bao, cái việc khởi đầu trở lại vẽ hình, họa bóng, vào cái tuổi của
tôi khi mà người ta từ bấy tới nay nào có bao giờ biết mưu đồ gì khác ngoài cái sự rắp
ranh vẽ một con trăn khép bụng và một con trăn mở lòng, vào lúc lên sáu! Tất nhiên,
tôi sẽ gắng thử họa những chân dung giống được chừng nào hay chừng đó. Nhưng tôi
không hoàn toàn chắc dạ là mình sẽ thành công. Một tấm vẽ đi qua, hỏng rồi, một tấm
khác không còn giống như hình được nữa. Một dư ảnh gái đã lạc gót sen hương, một
dư huệ về sau không níu giữ trong ngón tay sầu xe chỉ nữa. Về tầm vóc hình dài, tôi
cũng nhầm lẫn chút ít. Đây, hoàng tử quá to. Kia, hoàng tử quá bé. Tôi cũng ngại
ngùng trước màu sắc y phục của em. Vậy nên chi tôi quờ quạng loăng quoăng thế này,
thế nọ, thế đó, thế kia, được cũng tốt, không được cũng cam. Rồi nữa, tôi cũng sẽ còn
lầm lẫn về đôi chi tiết quan trọng hơn. Nhưng cái đó, chỉ xin người hãy phải nên tha
thứ. Người bạn thiết của tôi chẳng bao giờ ban cho tôi một lời giải thích. “C'est les
vipères!”. Rồi thôi. Tôi bước bên đường kêu gọi mãi. Nhớ người bạn cũ thuở anh
niên. Nhưng bặt âm. Người bạn chắc có lẽ đã tưởng rằng tôi giống bạn. Nhưng khổ
thay, tôi chẳng biết làm thế nào nhìn thấy cho ra những con cừu ở bên kia những
thùng chứa. Có lẽ tôi cũng là có phần nào giống như những người lớn. Có lẽ tôi là kẻ
đã phải về già.
V
Mỗi ngày, tôi biết thêm chút ít về tinh cầu, về ly biệt, về viễn du. Cái đó tới rất dịu
dàng, tùy cơn ngẫu nhĩ ưu tư. Vậy đó, ngày thứ ba, tôi được biết tấn bi kịch của những
cây cẩm quỳ.
Lần này nữa cũng là nhờ con cừu, vì chứng đột ngột hoàng tử bé hỏi tôi, dường như
chàng đang chịu một cơn nghi hoặc trầm trọng:
“Thật vậy chăng ru, rằng những con cừu ăn cây cối nhỏ?”
“Vâng. Chính thật là vậy.”
“A! Tôi hài lòng lắm.”
Tôi chẳng rõ vì sao cái việc cừu ăn cây cối nhỏ lại là việc trọng đại. Nhưng hoàng tử
nhỏ tiếp:
“Vậy thì hẳn nhiên là cừu cũng ăn cây cẩm quỳ?”
Tôi bèn nói cho hoàng tử hiểu rằng cẩm quỳ không phải là loại cây cối nhỏ, mà thuộc
loại cây to bự như những ngôi nhà thờ, và cho dẫu chàng có lôi theo với mình một
bầy voi đồ sộ, cũng hồ dễ mà làm nao núng được mỗi một cây cẩm quỳ khổng lồ đơn
độc đó thôi.
Ý tưởng một bầy voi lớn rộng xui hoàng tử cười to:
“Vậy phải sắp đặt con voi này nằm chồng chất trên lưng con voi khác…”
Nhưng rồi hoàng tử lại thâm thúy nhận xét thêm:
“Những cây cẩm quỳ, trước khi lớn rộng, thì cũng phải khởi đầu bằng hình thù thân
thể nhỏ nhoi.”
“Đúng vậy! Nhưng tại sao chú muốn rằng những con cừu của chú phải ăn cây cẩm
quỳ?”
Chú đáp: “Hi! Khéo hỏi!” như chừng đó là một chuyện cố kỳ nhiên. Tôi phải gắng gỗ
kịch liệt cho thông minh nảy nở ra mới tự mình tìm hiểu được một mình vấn đề nọ.
Thật vậy, trên tinh cầu của hoàng tử bé, cũng như trên mọi tinh cầu, có những cỏ lành,
và những cỏ dữ. Do đó, có những hạt giống lành của cỏ lành, và những hạt giống dữ
của cỏ dữ. Nhưng hạt giống thì nhỏ, nên mắt không nhìn ra. Chúng nằm ngủ yên
trong thớ đất u huyền cho tới lúc cao hứng ùa về với một hạt nào trong lũ hạt nọ, và
cao hứng hạt nọ đột khỏi cơn thức giấc bò ra. Thế là hột nọ duỗi thân một cái, và
thoạt tiên e ấp nảy mầm, hướng tới ánh nắng mà ngoi đầu lên cho dài ra thành một đọt
cỏ non bé bỏng diễm kiều vô hại thơ ngây như hồn tuyết bạch gái. Nếu là một ngọn lá
cải củ, hoặc tường vi, thì thiên hạ có thể để mặc tình tha hồ nó mọc. Nhưng nếu là
một ngọn cỏ dữ, thì phải liệu mà rứt nhổ nó đi liền liền, khi người ta nhận ra nó là bê
bối. Mà trên tinh cầu của hoàng tử bé thì có những hạt giống kinh khủng… ấy là
những chủng tử cẩm quỳ. Đất đai tinh cầu bị nhiễm độc bởi những phôi châu ác liệt
nọ. Mà một cây cẩm quỳ, nếu người ta đối phó muộn màng một chút, thôi thì không
còn mong chi trừ khử nó được nữa. Nó sẽ làm rầy rà cho toàn khối tinh cầu. Nó sẽ
làm rầy rà cho toàn khối tinh cầu. Nó sẽ đâm rễ nó xuyên qua cho nứt rạn cả khối.
Nếu tinh cầu quá nhỏ, nếu những cây cẩm quỳ quá nhiều, thì tinh cầu ắt vỡ toang vì
chúng.
“Đấy là một vấn đề kỷ luật, sau này hoàng tử bảo tôi thế. Khi ta xong xuôi cuộc tắm
rửa thân mình buổi mai, thì phải chăm sóc kỹ lưỡng tới cuộc tắm rửa tinh cầu. Phải tự
ước thúc mình một cách đề huề đều đặn trong công việc trừ khử những cây cẩm quỳ
ngay khi ta chợt phân biệt ra chúng với những cây tường vi. Hai loại này, thuở sơ sinh
non dại trông giống hệt nhau. Công việc làm thật là chán ngấy, nhưng chả khó nhọc
gì.”
Và một ngày nọ, hoàng tử bé khuyên tôi hãy chịu khó gắng công hoàn thành một bức
họa đẹp, để mà đem sự nọ tạc vào kỹ lưỡng trong đầu óc những trẻ con xứ sở tôi.
Hoàng tử bảo: “Nếu có ngày chúng nó viễn du, thì việc đó sẽ hữu ích cho chúng lắm.
Đôi lúc kể ra thì cái sự trì hoãn công việc làm cũng chẳng là điều đáng ngại. Nhưng
nếu sự vụ có liên can tới cẩm quỳ, thì đó lại là một thảm họa khôn lường. Tôi có biết
một tinh cầu, tại đó một gã lười lưu trú. Gã coi nhẹ ba cây cối nhỏ…”
Và, thể theo những chỉ bảo của hoàng tử bé, tôi đã vẽ tinh cầu nọ. Tôi không thích lấy
giọng nhà đạo đức. Nhưng cái hiểm họa của cẩm quỳ lại rất ít kẻ am hiểu, và kẻ lạc
lõng nơi một tiểu tinh cầu bị hăm dọa bởi những nguy cơ đồ sộ đến nỗi tôi phải xin
phép, một lần, được sự dè dặt thường hằng vào trong vòng ngoại lệ, và xin nói liều.
Tôi xin nói: “Hỡi các bé con! Hãy coi chừng đó, những cây cẩm quỳ!” Chính vì muốn
báo trước cho những bạn thiết biết một mối nguy cơ từ lâu, cũng như tôi, họ đã từng
cọ vào sát mép mà chẳng hay chẳng biết, vâng, chính vì thế mà tôi đã cố gắng mài
miệt rất nhiều để hoàn thành bức tranh ấy. Bài học tôi đưa ra, thật cũng đáng cái công
lao. Các anh sẽ tự hỏi có lẽ: Tại sao trong cuốn sách này chẳng có bức nào đồ sộ như
bức tranh cẩm quỳ? Lời đáp rất đơn giản: Tôi đã gắng gỗ, nhưng không thể thành
công. Lúc tôi vẽ những cây cẩm quỳ, tôi đã bị thôi thúc bởi tình cảm bức bách.
VI
A! Hoàng tử bé ơi, tôi đã lần hồi hiểu, theo vậy đó, cuộc đời bé bỏng sầu tư của chú.
Từ lâu, chú chỉ có một chút khiển muộn, là bóng chiều vàng êm ả. Tôi đã rõ chi tiết
mới mẻ này, vào buổi mai ngày thứ tư, lúc chú bảo:
“Tôi yêu chuộng những buổi chiều hồng. Chúng ta hãy đi nhìn một cảnh mặt trời
lặn…”
“Nhưng phải chờ…”
“Chờ gì?”
“Chờ cho mặt trời lặn.”
Thoạt tiên, chú đã tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi sau đó chú đã tự cười mình lẩn thẩn. Chú bảo:
“Tôi cứ tưởng mình luôn luôn ở tại quê hương xứ sở.”
Thật vậy. Khi tại Huê Kỳ, mặt trời đứng ngọ, thì ai cũng biết rằng tại Pháp, mặt trời
đương lặn. Chỉ cần có thể chạy bay trong một phút sang Pháp là có thể ngắm một
cảnh hoàng hôn. Rủi thay nước Pháp lại quá xa vời. Nhưng, tại trên tinh cầu tí tẻo của
hoàng tử bé, hoàng tử chỉ cần kéo đẩy sơ cái ghế ngồi một chút. Và hoàng tử nhìn
thấy cảnh mặt trời lặn tùy thích bất cứ lúc nào…
“Một ngày nọ, tôi đã nhìn mặt trời lặn liên tiếp bốn mươi ba lần!”
Và ít lâu sau, chú nói thêm:
“Bác biết đó… lúc người ta buồn quá đỗi, người ta yêu dấu cảnh mặt trời lặn xiết
bao…”
“Cái ngày chú nhìn bốn mươi ba lần nọ, chú đã buồn quá đỗi phải không?
Nhưng hoàng tử bé không đáp.
VII
Ngày thứ năm, vẫn cũng vì con cừu, sự bí ẩn trong cuộc đời hoàng tử bé được biểu lộ.
Đột ngột hoàng tử hỏi tôi, không nhập đề gì ráo, như đó là kết quả một vấn đề đã
được trầm ngâm suy gẫm lâu rồi.
“Một con cừu, nếu có ăn cây cối nhỏ, thì nó cũng ăn những đóa hoa.”
“Một con cừu thì ăn bất cứ cái gì nó gặp. Bạ đâu ăn đó rất mực bừa bãi vậy.”
“Cả những cành hoa có gai nhọn?”
“Ừ. Cả những cành hoa có gai nhọn.”
“Vậy thì những gai nhọn, dùng vào việc chi?”
Tôi không biết điều đó. Lúc ấy tôi hết sức bận, loay hoay vặn một cái đinh bù lon ăn
cứng trong máy phi cơ. Tôi bận tâm lo lắng lắm, vì trận hỏng máy này đã bắt đầu cho
thấy quá trầm trọng, và nước uống cứ hao cạn hoài xui tôi lo sợ nặng nề: càng ngày
càng khốn đốn về sau.
“Những gai nhọn dùng vào việc chi?”
Hoàng tử bé không bao giờ rút lui câu hỏi, mỗi phen chú đã nêu nó ra rồi. Tôi đã bực
mình vì cái bù lon, nên đáp bừa:
“Gai nhọn, không dùng vào cái tích sự chi ráo, đó chỉ là cái ác hại thuần túy của hoa!”
“Ồ!”
Nhưng sau một lúc im lặng chú văng ra một câu, với giọng thật là oán hận:
“Tôi không tin lời bác! Hoa mảnh khảnh lắm. Hoa thơ dại lắm. Hoa phải tự gắng làm
cho mình yên dạ phần nào hay phần nấy. Hoa tự nghĩ là mình ắt ghê gớm lắm với
những gai nhọn của mình…”
Tôi không trả lời. Lúc đó tôi tự nhủ: “Nếu cái đinh bù lon này mà còn cứng cổ, thì ta
sẽ đập một nhát búa vào thì nó phải nhảy tung ngay”. Hoàng tử nhỏ lại quấy rầy ý
tưởng tôi:
“Và bác tưởng, bác tưởng rằng hoa…”
“Nhưng không! Không! Tôi chẳng tưởng tư gì ráo ráo! Tôi trả lời bạ đâu bù đó. Tôi
bận tâm lo chuyện hệ trọng!”
Chú đờ đẫn nhìn tôi.
“Bận tâm lo chuyện hệ trọng!”
Chú nhìn tôi bàn tay cầm búa, ngón tay đen sì những dầu nhớt, đương nghiêng thân
trên một cái vật chú xem ra xấu xí quá.
“Bác nói chuyện nghe như những người lớn!”
Câu đó làm tôi thấy hổ thẹn chút ít. Nhưng chú vẫn tiếp tục:
“Bác lẫn lộn tuốt luốt hết! Lẫn lộn tuốt hết.”
Trông chú thật quả là cáu tiết. Chú lắc đầu tóc vàng óng bay tung trong gió:
“Tôi biết một tinh cầu có một Ông Cụ mặt đỏ như gấc chín. Chẳng bao giờ ông ta ngó
một ngôi sao. Chẳng bao giờ ông ta yêu ai hết. Chẳng bao giờ ông ta làm một cái việc
chi khác, ngoài cái việc làm những bài toán cọng. Và suốt ngày ông ta lặp đi lặp lại y
hệt như bác: “Tôi là một con người trang nghiêm! Tôi là một con người trang nghiêm”
và cái đó làm ông ta phình to lên cái lỗ mũi tự hào. Nhưng đó không phải một con
người, đó là một cái nấm!”
“Một cái gì?”
“Một cái nấm!”
Hoàng tử bé bây giờ mặt mày tái xanh vì tức giận.
“Từ hàng triệu năm rồi, hoa đã tạo gai. Từ hàng triệu năm rồi cừu vẫn cứ ăn hoa. Và
cái sự tìm hiểu xem tại sao mà hoa phải nhọc mệt tạo mãi những gai nhọn chẳng dùng
được vào việc gì gì hết cả, sự đó chẳng phải là chuyện nghiêm trang hay sao? Cuộc
chiến tranh giữa cừu và hoa, không phải là chuyện hệ trọng hay sao? Chẳng nghiêm
trang hệ trọng hơn những bài toán cọng của ông cụ bự đỏ như gấc chín hay sao? Và
nếu tôi có biết, chính tôi có biết một đóa hoa duy nhất ở đời, không đâu có cả, ngoài
tinh cầu tôi, và nếu một con cừu bé có thể rỡn chơi liếm sơ qua một chút, mà tiêu diệt
tan hoang mất cái đóa hoa ấy như vậy đó trong một buổi mai dịu dàng và chẳng nhận
thấy rằng cái việc mình làm kia gớm guốc thế nào, đó không phải là chuyện hệ trọng
hay sao?
Chú đỏ mặt, rồi tiếp:
“Nếu có một kẻ yêu một đóa hoa duy nhất chỉ duy có một mà thôi trong hàng triệu
triệu tinh cầu, chừng đó đủ để kẻ ấy sung sướng lúc nhìn ngàn sao ở trên trời. Anh ta
tự nhủ: “Đóa hoa của mình hiện nằm tại đó, nơi đó, chốn kia…”. Nhưng nếu con cừu
ăn đóa hoa, thì sự đó đối với anh ta cũng như thể là đột nhiên trong một nháy ngàn
ngàn ngôi sao thình lình tắt lịm! Và đó, không phải là chuyện hệ trọng hay sao!
Chú không nói thêm gì được nữa. Đột nhiên, chú òa lên khóc. Đêm xuống rồi. Tôi bỏ
rơi tay búa. Tôi chả còn sá gì búa dao bù lon nữa, chả thiết chi tới chuyện chết khác,
chết đói. Trên một tinh cầu, tinh cầu của tôi, trên Địa cầu của tôi, có một hoàng tử bé
cần được an ủi! Tôi ôm chú vào lòng. Tôi ru. Tôi bảo: “Đóa hoa chú yêu dấu đó
không gặp nguy hại gì đâu… Tôi sẽ vẽ thêm một cái rọ bịt mõm vào cái mồm con cừu
của chú… Tôi sẽ vẽ một tấm áo giáp sắt cho đóa hoa của chú… Tôi sẽ…”. Tôi chẳng
còn biết nói chi nữa. Tôi thấy mình vụng về quá. Tôi không biết làm cách gì để đi tới
cõi lòng chú, gặp gỡ linh hồn chú… Thật huyền bí không xiết, là cái xứ sở của lệ
vàng.
VIII
Tôi đã sớm biết rõ đóa hoa kia. Từ xưa, trên hành tinh của hoàng tử bé, luôn luôn có
những cành hoa rất đơn sơ, điểm trang bằng một hàng cánh hoa thưa thớt, không
choán chỗ gì nhiều, không làm phiền rộn ai. Các đóa hoa hiển hiện một sớm mai trên
đồng cỏ, rồi tàn rụng lúc chiều hôm. Nhưng còn đóa hoa riêng biệt nọ đã nảy mầm
một ngày kia, do một chủng tử chẳng rõ từ đâu tới, và hoàng tử bé đã từng chăm sóc
thiết thân cái ngọn lá kia, trông không giống chút nào những ngọn lá khác. Đó có thể
là một loại cẩm quỳ mới. Nhưng mà cành cây nhỏ sớm dừng phát triển, và khởi sự
soạn sửa cho nảy nở một đóa hoa. Hoàng tử bé chứng giám cuộc hình thành một búp
hoa đồ sộ, đã linh cảm chắc chắn rằng một sự hiển hiện huyền ảo sẽ xảy tới, nhưng
đóa hoa vẫn không ngừng soạn sửa cho càng thêm kiều diễm, mỗi mỗi ngày cư trú êm
đềm trong căn phòng xanh lục. Nường chọn lựa kỹ lưỡng màu sắc cho mình. Nường
vận xiêm y một cách thật thong dong chậm rãi, nường sửa sang, xếp đặt từng mỗi mỗi
cánh hoa của mình. Nường không muốn xuất hiện tả tơi nhàu nát như những cành mỹ
nhân thảo, hoặc những đóa hoa anh túc. Nường chỉ muốn xuất hiện trong vẻ sáng
ngời lộng lẫy mở phơi của dung nhan kiều lệ. Ê, vâng ạ. Nường rất ưa làm duyên!
Xiêm y huyền bí của nường như vật lạ hằng hằng soạn sửa từng ngày, từng tuần, từng
cữ… Và thế đó một sáng mai kia, chính lúc vừng hồng trỗi dậy, nường đã lồ lộ hiện
thân thập thành tráng lệ.
Nường, nường đã chăm nom chỉnh bị xiết bao tỷ mỷ chú tâm nường lại giả vờ ngáp
dài một cái, và dã dượi bảo rằng:
“A! Thiếp mới chớm trở giấc. Xin chàng thứ lỗi. Đầu tóc của thiếp tóc còn xổ bung
rối bù.”
Hoàng tử bé bấy giờ không kìm hãm nỗi lòng lâng lâng thán phục:
“Sao mà nường đẹp thế!”
“Phải chăng? Thật chăng? Chàng hãy nhớ rằng thiếp sinh ra đời song song với vừng
dương đó ạ…”
Hoàng tử bé cũng đoán biết là nường ta chẳng phải nhũn nhặn khiêm nhượng gì cho
lắm, nhưng sao mà nàng xui lòng cảm động đến thế!
“Có lẽ đã tới giờ điểm tâm, nàng nói tiếp, chàng có chút độ lượng bao dung nào đối
với thiếp thì, xin hãy…”
Và hoàng tử bé ngượng ngùng đầy mặt, đã chạy đi tìm chiếc thùng tưới đầy ắp nước
trong veo phơi phới mang về phục vụ đóa hoa.
Thế đó, nường đã sắp khiến chàng chịu bao cơn loay hoay bối rối, ấy cũng bởi cái
thói ưa làm đỏm khoe khoang pha chút hoài nghi e e ngại ngại. Chả hạn một ngày kia
nói tới bốn cái gai nhọn của nường, nường đã bảo:
“Chúng có thể tới lắm, những con cọp với những vuốt nanh nhọn nanh nhe của
chúng!”
“Trên tinh cầu của tôi không có cọp đâu, hoàng từ bé đáp, vả chăng cọp không có ăn
cỏ.”
“Thiếp không phải là một lá cỏ”, đóa hoa đã dịu dàng đáp.
“Xin lỗi nường…”
“Thiếp chẳng sợ gì cọp, chỉ duy có ghê sợ những trận gió lò mà thôi. Chắc đâu rằng
chàng có một tấm bình phong che gió?”
“Ghê sợ gió lò… thật chả hay ho gì, đối với một ngành thảo một, hoàng tử bé nhận xét
như vậy. Đóa hoa này coi có bộ ưa sinh chuyện phiền phức đa đoan lắm lắm…”
“Chiều hôm sương xuống chàng hãy đặt thiếp trong bầu tròn. Nơi nhà chàng rét buốt
lắm. Chẳng đặt định đúng hướng gì lắm đó. Nơi quê tôi…”
Nhưng nàng chợt ngừng môi. Nàng đã về đây trong hình hài hạt giống. Nường biết
đâu vào đâu mà nói tới những cõi miền xa lạ. Ngượng nghịu xấu hổ vì bị bắt quả tang
sắp giở trò bố láo một cách khờ khạo vụng về, nường đã ho ho hai ba tiếng hắc hắc,
cố tình đẩy hoàng tử vào cõi lầm lỗi cho mới cam tâm:
“Tấm bình phong kia...
 





